HSB và Cổng thông tin điện tử Chính phủ phối hợp tổ chức “Diễn đàn An ninh Phi truyền thống Việt Nam”

Từ tháng 3/2026, Viện An ninh phi truyền thống (Trường Quản trị và Kinh doanh, ĐHQG Hà Nội) phối hợp với Cổng TTĐT Chính phủ tổ chức “Diễn đàn An ninh phi truyền thống Việt Nam” nhằm kết nối chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý và doanh nghiệp. Số đầu tiên được tổ chức vào sáng 26/3/2026 với chủ đề “Phát triển kinh tế bạc từ góc nhìn an ninh phi truyền thống”

Kênh đối thoại chính sách có chiều sâu

Để góp phần thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ về kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng trong điều kiện mới, Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh, Đại học quốc gia Hà Nội phối hợp với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ đồng tổ chức “Diễn đàn An ninh phi truyền thống Việt Nam”.

Diễn đàn tập hợp các chuyên gia, các nhà khoa học, diễn giả, lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành, doanh nghiệp… nhằm: Cụ thể hóa, làm rõ nội hàm và định hướng triển khai các chính sách về an ninh phi truyền thống; Kết nối giữa hoạch định chính sách – nghiên cứu khoa học – thực tiễn quản lý; Tăng cường truyền thông chính sách, lan tỏa thông tin chính thống, tạo sự đồng thuận xã hội.

“Diễn đàn An ninh phi truyền thống Việt Nam” được kỳ vọng sẽ trở thành một kênh đối thoại chính sách có chiều sâu, thiết thực và bền vững; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trong bối cảnh mới. Diễn đàn được tổ chức theo hướng định kỳ, thường xuyên (mỗi tháng một chuyên đề), số đầu tiên được tổ chức vào sáng ngày 26/3/2026 với chủ đề: “Phát triển kinh tế bạc từ góc nhìn an ninh phi truyền thống”

Các đại biểu tham dự Diễn đàn “An ninh Phi truyền thống Việt Nam”

Phát triển kinh tế bạc từ góc nhìn An ninh Phi truyền thống

Tọa đàm nhằm làm rõ nội hàm, cấu trúc và xu thế phát triển “kinh tế bạc” trên thế giới và ở Việt Nam; xác định vị trí của “kinh tế bạc” trong mô hình tăng trưởng mới và chiến lược phát triển quốc gia; đánh giá thực trạng già hóa dân số và tiềm năng thị trường “kinh tế bạc” ở Việt Nam; đề xuất khung chính sách phát triển “kinh tế bạc”, phát huy tiềm năng và nguồn lực “kinh tế bạc” giai đoạn 2026-2030.

Tham dự Tọa đàm có đại diện các ban, bộ, ngành liên quan; các chuyên gia kinh tế, dân số, KHCN, an sinh xã hội, GD&ĐT; đại diện một số tổ chức quốc tế (UNFPA, WHO Việt Nam…)

Theo Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm, Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, Việt Nam hiện có khoảng 16,1 triệu người cao tuổi, vậy vấn đề đặt ra là làm sau phát huy hiệu quả nguồn lực này khi nhiều người cao tuổi vấn có nhu cầu và khả năng lao động. Đồng thời cần xác định rõ người cao tuổi là trung tâm trong các chính sách an sinh, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe. Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm cũng đề xuất hệ thống chính sách cần bảo đảm để người cao tuổi thực sự được hưởng thành quả phát triển cả về vật chất lẫn tinh thần.

Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm, Viện trưởng Viện An ninh phi truyền thống, Trường Quản trị và Kinh doanh

Ở góc độ tổ chức xã hội, TS Trương Xuân Cừ, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, cho biết lực lượng trí thức cao tuổi hiện rất lớn với khoảng 25.000 nhà khoa học, trong đó có 1.250 giáo sư và 5.500 phó giáo sư. Đây là nguồn lực tri thức quan trọng nếu được khai thác hiệu quả.

Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận kinh tế bạc tại Việt Nam vẫn đối mặt nhiều hạn chế. Đáng chú ý là chưa có khung chính sách đồng bộ, chưa huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, khiến tiềm năng chưa được phát huy tương xứng.

Trong khi đó, trên thế giới, kinh tế bạc đã trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng. Trung Quốc hiện có hơn 310 triệu người cao tuổi, đóng góp khoảng 6% GDP và dự kiến đạt 10%. Nhật Bản coi đây là trụ cột với khoảng 20% GDP. Singapore cũng đang tận dụng xu hướng già hóa để thúc đẩy đổi mới và mở ra cơ hội cho doanh nghiệp.

TS Trương Xuân Cừ, Phó Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam

Người cao tuổi vừa là chủ thể vừa là khách hàng của nền kinh tế bạc

Theo GS TS Hoàng Đình Phi, Hiệu trưởng Trường Quản trị và Kinh doanh (HSB), ĐHQGHN, người cao tuổi vừa là chủ thể của nền kinh tế bạc khi họ hiện đang là chủ các doanh nghiệp, tập đoàn lớn hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực của kinh tế bạc, đồng thời họ cũng là khách hàng của nền kinh tế này, hàng ngày, hàng giờ tiêu thụ các sản phẩm, dịch vụ dành cho người cao tuổi như viện dưỡng lão, chăm sóc sức khỏe người già, dinh dưỡng, thực phẩm, đồ uống dành riêng cho người cao tuổi … Đồng thời, dưới góc nhìn An ninh Phi truyền thống, người cao tuổi cũng là những người cần được bảo vệ, chăm lo về đời sống an sinh, đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần cho đến lúc cuối đời, bởi họ đã cống hiến rất nhiều công sức, trí tuệ, tâm huyết cho sự phát triển đất nước.

GS TS Hoàng Đình Phi, Hiệu trưởng Trường Quản trị và Kinh doanh (HSB), ĐHQGHN

GS Hoàng Đình Phi nhấn mạnh, Nghị quyết 72 “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” cần làm rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Y tế và Sở Y tế các địa phương, trong việc phát triển thị trường chăm sóc sức khỏe hiện đại cho người dân.

Nội dung này không chỉ bao gồm dịch vụ y tế mà còn liên quan đến thị trường dược phẩm, trong đó cần chú trọng cả tân dược và Đông y, Đông dược. Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, thị trường thuốc Đông dược, thuốc Nam của Việt Nam chưa được phát triển tương xứng, trong khi đây là lĩnh vực có tiềm năng lớn.

Việc phụ thuộc chủ yếu vào thuốc Tây và nguồn cung từ nước ngoài không chỉ làm tăng chi phí ngoại tệ mà còn ảnh hưởng đến tính tự chủ của nền y tế quốc gia. Đồng thời, điều này cũng khiến năng lực sản xuất trong nước suy giảm, đặc biệt là ngành y học cổ truyền.

GS Hoàng Đình Phi cũng chỉ rõ một thực tế về chính sách thu hút đầu tư, đặc biệt là khu vực tư nhân, hiện vẫn còn nhiều vướng mắc. Các mô hình dịch vụ chăm sóc người cao tuổi như dưỡng lão theo ngày, theo tuần hoặc theo tháng chưa được phát triển mạnh do thiếu cơ chế hỗ trợ rõ ràng về đất đai, thuế và thủ tục pháp lý. Chi phí đầu tư cho các cơ sở này rất lớn, trong khi chính sách ưu đãi chưa đủ để khuyến khích doanh nghiệp tham gia.

Thực tế cho thấy, ngay cả những người có thu nhập khá, bao gồm cả các chuyên gia, giáo sư sau khi nghỉ hưu, cũng khó có khả năng tiếp cận các dịch vụ dưỡng lão chất lượng cao. Điều này đặt ra câu hỏi về tính công bằng, khi những người đã đóng góp nhiều cho xã hội lại không có điều kiện đảm bảo cuộc sống khi về già. Đồng thời, điều này cũng có thể ảnh hưởng đến động lực cống hiến của thế hệ trẻ.

Về nguồn nhân lực, Việt Nam đã có nhiều nhóm ngành liên quan đến kinh tế bạc, bao gồm chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng, bất động sản dưỡng lão, tài chính, bảo hiểm, du lịch nghỉ dưỡng, công nghệ hỗ trợ… Tuy nhiên, việc thống kê, phân tích và khai thác dữ liệu về các ngành này chưa được thực hiện đầy đủ. Với sự hỗ trợ của công nghệ và dữ liệu, hoàn toàn có thể xác định quy mô, đóng góp của các lĩnh vực này trong nền kinh tế.

Từ đó, GS Hoàng Đình Phi cho rằng cần xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phù hợp, từ đội ngũ quản lý đến bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên chăm sóc, cũng như các chuyên ngành liên quan đến y học cổ truyền. Đây là yếu tố quan trọng để phát triển bền vững kinh tế bạc trong tương lai.

Về giải pháp triển khai, cần chuyển từ trao đổi, thảo luận sang hành động cụ thể. Một trong những giải pháp là thiết lập các thỏa thuận hợp tác có tính pháp lý giữa các chủ thể liên quan. Trong đó, Hội Người cao tuổi Việt Nam được xác định là một chủ thể trung tâm, đóng vai trò kết nối, dẫn dắt và thúc đẩy sự tham gia của người cao tuổi.

Bên cạnh đó, theo GS.TS Hoàng Đình Phi, các trường đại học, đặc biệt là các cơ sở đào tạo y dược và chăm sóc sức khỏe, cần chủ động phối hợp với Hội Người cao tuổi để xây dựng các chương trình hợp tác. Các bệnh viện, doanh nghiệp và tổ chức xã hội cũng cần tham gia vào mạng lưới này, tạo thành một hệ sinh thái phối hợp chặt chẽ.

Để triển khai hiệu quả, cần lựa chọn những mô hình thí điểm phù hợp, ưu tiên các đơn vị có điều kiện thuận lợi như doanh nghiệp xã hội hoặc các tổ chức không vì lợi nhuận. Mục tiêu trước mắt là xây dựng các mô hình cụ thể, có thể đo lường được bằng các chỉ số rõ ràng, thay vì chỉ dừng lại ở các ý tưởng chung chung.

GS.TS Hoàng Đình Phi nhấn mạnh, các mô hình này có thể bao gồm mô hình không vì lợi nhuận, mô hình hòa vốn và mô hình có lợi nhuận. Mỗi mô hình đều cần được đánh giá không chỉ về hiệu quả kinh tế mà còn về hiệu quả xã hội, như đóng góp vào an ninh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và ổn định xã hội.

Việc xây dựng các mô hình có số liệu cụ thể, có chỉ số đánh giá (KPI) rõ ràng là cơ sở quan trọng để báo cáo với Chính phủ và các cơ quan quản lý, từ đó làm căn cứ để hoàn thiện chính sách và nhân rộng trong thực tiễn.

 

 

Related Posts